A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HỌC SINH NĂNG KHIẾU MÔN TIẾNG VIỆT CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC PHÚ HỘ.

Trong thời gian được phân công giảng dạy tại trường tiểu học Phú Hộ thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ, tôi nhận thức được tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng học sinh năng khiếu môn Tiếng việt.

                  Trong thời gian được phân công giảng dạy tại trường tiểu học Phú Hộ thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ, tôi nhận thức được tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng học sinh năng khiếu môn Tiếng việt. Với nhận thức đó chúng tôi luôn đi sâu tìm hiểu nội dung chương trình Tiếng việt bậc tiểu học, các tài liệu tập huấn thay sách và các tạp chí có liên quan về đại trà và nâng cao, qua sự nghiên cứu đó, đối chiếu với thực tế giảng dạy cố gắng tìm những biện pháp tối ưu nhằm hỗ trợ công tác giảng dạy, bồi dưỡng đạt hiệu quả cao. Tôi nhận thấy: Mục tiêu bồi dưỡng học sinh môn Tiếng việt không phải là để tạo ra những nhà văn, nhà ngôn ngữ học mặc dù trên thực tế trong số học sinh giỏi này sẽ có những em có khả năng trở thành những tài năng văn chương, ngôn ngữ học, mà mục tiêu chính của công tác này là: bồi dưỡng lẽ sống, tâm hồn, khả năng tư duy và năng lực ngôn ngữ, năng lực cảm thụ văn chương đặc biệt là giữ gìn sự trong sáng của Tiếng việt. Trên cơ sở đó góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại vừa giữ được những tinh hoa văn hoá dân tộc vừa tiếp thu tốt những giá trị văn hoá tiên tiến trên thế giới. Qua kinh nghiệm một số năm được trực tiếp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt, tôi rút ra được một số vấn đề sau:

1. Giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng việt cần nắm  chắc nội dung chương trình và kiến thức Tiếng việt, biết vận dụng đổi mới phương pháp dạy học: lấy học sinh làm trung tâm, biết tôn trọng sự sáng tạo của học sinh. Trong quá trình giảng dạy biết sử dụng nhiều câu hỏi gợi mở để hướng học sinh phân tích, tìm hiểu bài tập.

2. Việc Phát hiện học sinh có khả năng trở thành học sinh giỏi môn Tiếng việt cũng đặc biệt quan trọng, góp phần chủ yếu vào hành công của công ác bồi dưỡng. Những biểu  hiệu của học sinh có năng khiếu Tiếng Việt:

-  Các em có lòng say mê văn học, có hứng thú với nghệ thuật ngôn từ, yêu thích thơ ca, ham mê đọc sách báo, thích nghe kể chuyện. Có những em ước mơ thành nhà văn, nhà báo hoặc trở thành cô giáo. Phần lớn các em không hờ hững trước những vẽ đẹp của ngôn từ trong văn chương, gắng ghi nhớ và ghi chép những câu thơ, câu văn mình yêu thích.

VD: đọc 2 câu thơ:

"Con xót lòng mẹ hái trái bưởi đào

Con nhạt miệng có canh tôm nấu khế"

Các em sẽ hiểu được hình ảnh rất cụ thể: mẹ lúc nào cũng sẵn sàng chăm sóc con của người chiến sĩ, lo lắng cho con, làm tất cả những gì mà con cần.

- Các em có những phẩm chất tư duy có tính thống nhất, tư duy phân loại, phân tích, trìu tượng hoá, khái quát hoá. Có năng lực quan sát, nhận xét ngôn ngữ của mọi người và của chính mình.

- Các em còn có óc quan sát hiện thực, biết liên tưởng, giàu cảm xúc.

VD: Có em dùng cụm từ "Trăng đắp chiếu" thay cho hình ảnh trang bị mây che phủ. Như vậy ta có thể thấy được các em có khả năng tư duy nghệ thuật, có khả năng biến vẽ đẹp tự nhiên thành vẽ đẹp của ngôn từ, biết phát hiện những tín hiệu nghệ thuật để dùng ngôn từ biểu đạt nội dung.

- Về khả năng sử dụng từ: những học sinh giỏi Tiếng việt thường có khả năng sử dụng các tính từ, từ tượng hình, tượng thanh, sử dụng những câu có các thành phần phụ như: trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ khi viết câu văn sáng, rõ ý, bộc lộ được tư tưởng tình cảm của mình đối với hiện thực được nói tới.

Chẳng hạn cách diễn đạt của 2 học sinh trung bình và giỏi môn Tiếng việt về cùng một nội dung:

"Chúng em đã đến quảng trường Ba Đình, quảng trường này rất có ý nghĩa vì tại đây Bác Hồ đã đọc Tuyên ngôn độc lập cũng vì thế lăng Bác đặt ở đây".

"Thế là chúng em đã được đến quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi đây Bác Hồ đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. cũng chính nơi đây, toàn dân ta đã chung sức xây nên nơi an nghỉ cho Người".

  Đoạn văn của em học sinh khá nó có tác động không phải chỉ vào lý trí mà cả tình cảm người đọc.

3. Công tác tổ chức bồi dưỡng:

Vậy vấn đề đặt ra là cần phải phát hiện những học sinh có khả năng giỏi Tiếng việt từ lúc nào? Nên tổ chức bồi dưỡng từ lớp nào? Trên thực tế, có nhiều trường khi chẩn bị theo học sinh giỏi các cấp mới tập trung học sinh để ôn luyện, có nhiều trường tổ chức từ lớp 4, nhưng theo những vấn đề trên việc bồi dưỡng phải được tổ chức thường xuyên không phải chỉ ở các lớp bồi dưỡng mà ở các tiết học, các môn học các em cần phải được uốn nắn và phát hiện ngay từ lớp 2.

Bồi dưỡng học sinh giỏi cần bồi dưỡng những gì? Đây là câu hỏi đặt ra mà nhiều giáo viên sẽ lúng túng không biết bắt đầu từ đâu. Có thể mỗi giáo viên có một cách làm một phương pháp bồi dương. Nhưng có lẽ để bồi dưỡng một học sinh giỏi môm Tiếng Việt cần tập trung vào bồi dưỡng những vấn đề sau:

Thứ nhất:  Bồi dưỡng hứng thú học tập:

Hứng thú là một khâu quan trọng, là một hiện tượng tâm lý trong đời sống mỗi người. Hứng thú tạo điều kiện cho con người học tập lao động được tốt hơn. Nhà văn M.gocki nói: "Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc". Việc bồi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng việt là một việc làm cần thiết. Để tạo được sự hứng thú học tập cho các em, người giáo viên bồi dưỡng phải tạo được sự thoải mái trong học tập, phải làm cho các em cảm nhận được vẽ đẹp và khả năng kỳ diệu của ngôn từ trong tất cả các giờ học, các môn học để kích thích vốn từ sẵn có của từng em.

Cả nhữg bài về từ ngữ, ngữ pháp cũng không gây cho các em cảm giác khô khan, chán học nếu chúng ta biết gây hứng thú cho học sinh, nếu giáo viên nắm được vấn đề và dùng phương pháp thích hợp để gây chú ý của học sinh.

Cho các em tiếp xúc càng nhiều càng tốt với những tác phẩm văn chương, những mẫu câu sử dụng cú pháp hay, mẫu mực như Lê Trí Viễn đã nói "không làm thân với văn thơ thì không nghe lời thầy được tiếng lòng chân thật của nó". Cùng với sự tiếp xúc về văn chương còn có thể kể cho học sinh nghe về cuộc đời riêng của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, xuất xứ của những câu chuyện hay, tác phẩm đặc sắc, tổ chức nói chuyện văn thơ, ngoại khoá Tiếng việt.

Thứ hai:  Bồi dưỡng vốn sống:

Hiện nay các giáo viên khi dạy bài tập làm văn cho học sinh thường thiên về dạy các lý thuyết  mà không cung cấp cho các em những chất liệu cuộc sống để tạo nên cái hồn của bài viết.

Khi một học sinh khó khăn trước một bài văn giáo viên thường cho rằng các em không nắm vững lý thuyết viết văn mà quên rằng nguyên nhân làm cho các em không có hứng thú viết là các em đã không tạo được mối quan hệ của mình với nội dung yêu cầu của đề bài. Nghĩa là các em thiếu nội dung, thiếu chi tiết, định hướng quan sát nên không có gì để viết hoặc viết các ý không trình tự lôgic. Nguyên nhân đó là việc thiếu hụt vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh.

Trên cơ sở đó  tôi rút ra kinh nghiệm rằng: Để bồi dưỡng vốn sống cho học sinh cần phải cho các em quan sát, trải nghiệm những gì chuẩn bị viết.

VD: Khi hướng dẫn các em quan sát con đường để thực hiện bài viết. Tuy nhiên không nên hiểu quan sát một cách khô cứng mà giáo viên cần làm cho việc quan sát thực tế vùng không ảnh hưởng đến óc tưởng tượng của các em, giúp các em loại bỏ những chi tiết rườm rà không cần thiết. Nhưng sự tưởng tượng dù có bay bổng đến mấy cũng phải bắt nguồn từ thực tế cuộc sống. Người giáo viên phải đóng vai trò dẫn dắt, gợi mở tạo nguồn cảm hứng, khơi dậy suy nghĩ trong các em trong quá trình quan sát. Nên nhớ rằng, giáo viên cần tạo cho học sinh một tình cảm hứng thú, sự tò mò với vật quan sát nếu không sự quan sát sẽ không đạt được mục đích.

Bên cạnh đó, giáo viên cần xây dựng cho học sinh có hứng thú và thói quen đọc sách. Khi đọc sách, cảm hứng các em được khơi thông tạo nên sự rung động trong tình cảm, tâm hồn làm nảy nở những ước mơ đẹp. Từ đó khơi dậy năng lực hành động, bồi dưỡng tâm hồn. Người xưa nói "Trong bụng chưa có ba vạn quyển sách, trong mắt chưa có núi sông kỳ lạ của thiên hạ thì chưa học được văn".

Thứ ba: Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng Tiếng việt.

 Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng từ ngữ được chia làm 2 mảng.

1. Kiến thức lý thuyết về từ và khả năng nắm nghĩa sử dụng.

a. Bồi dưỡng lý thuyết về từ: Nội dung không vượt ra ngoài 12 bài lý thuyết về từ: từ đơn, từ ghép, từ láy, từ ghép tổng hợp, từ ghép phân loại, các kiểu từ láy, các dạng từ lấy, nghĩa của từ láy, từ tượng hình, tượng thanh, từ nhiều nghĩa, cùng nghĩa, trái nghĩa.

b. Phân loại nhận diện từ theo cấu tạo.

- Dựa vào số lượng tiếng của từ chia ra từ đơn và từ ghép.

- Khi phân loại nhóm từ đa âm phải dựa vào mối quan hệ giữa các tiếng trong từ.

+ Nếu có quan hệ về mặt ngữ nghĩa: từ ghép.

+ Nếu có quan hệ về mặt ngữ âm: từ láy.

Lưu ý trong tiếng Việt có những từ thuần Việt như: tắc kè bồ bóng, bồ kết hay những từ vay mượn như: xà phòng, mít tinh... là những từ đơn đa âm không nên sử dụng làm ngữ liệu để phân tích. Trong trường hợp học sinh đưa ra giáo viên cần phân tích mặt âm, mặt nghĩa để kết luận.

Các từ 2 tiếng có sự giống nhau về âm như: chôm chôm, thằn lằn, ba ba, thuồng luồng... tuy không phải là từ láy nhưng đều được xem là từ láy.

Các kiểu từ như: ồn ào, ầm ỉ, ọc ạch, ỏn ẻn... đều được xem là từ láy và được giải thích là khuyết âm phụ đầu.

Các từ như cong queo, cuống quýt, kinh coong... cũng là từ lóng có phụ âm đầu viết dưới dạng những con chữ khác nhau.

- Về phân biệt từ ghép tổng hợp, từ ghép phân loại.

+ Từ ghép tổng hợp: giữa các tiếng có quan hệ đẳng lập mang tính tổng hợp khái quát nghĩa của những từ đơn hợp thành.

VD: nhà cửa, ruộng vườn, núi sông...

+ Từ ghép phân loại: có yếu tố cụ thể hoá, cá thể hoá nghĩa cho yếu tố kia.

VD: Xe đạp, xe máy, xe điện...

Lưu ý: Một số từ tuỳ từng ngữ cảnh mà xếp, có khi là từ ghép tổng hợp, có khi là từ ghép phân loại.

VD: Từ "Sáng trong" trong câu "một tấm lòng sáng trong như ngọc" là từ ghép tổng hợp, có thể đổi thành "trong sáng". Nhưng trong câu "con hãy mua cho bố cái bóng đèn sáng trong, đừng mua bóng đèn sáng đục" thì là từ ghép phân loại.

2. Làm giàu vốn từ hay luyện kỹ năng nắm nghĩa từ và sử dụng từ cho học sinh.

- Dạng 1: Yêu cầu học sinh giải nghĩa từ hay thành ngữ cụ thể.

VD: Em hiểu thành ngữ "Gió chiều nào che chiều ấy" là thế nào? Hay "lao động trí óc" là gì?

- Dạng 2: Cho những từ có cùng yếu tố cấu tạo.

VD: Phân biệt nghĩa của các từ "mẹ đẻ", "mẹ nuôi", "mẹ kế", "mẹ ghẻ"...

- Dạng 3: Yêu cầu hoạt động kể ra các từ theo chủ đề.

- Dạng 4: Yêu cầu phân loại từ theo nhóm nghĩa và đặt tên cho nhóm.

- Dạng 5: Dạng để sửa lỗi từ dùng sai.

- Dạng 6:  Đặt câu, viết đoạn văn với những từ cho sẵn.

- Dạng 7: Điền từ vào chỗ trống.

Trên đây chỉ liệt kê một số dạng, còn nhiều dạng khác nữa giáo viên phải nắm chắc, cho học sinh tiếp cận nhiều lần thì bài kiểm tra mới đạt hiệu quả cao.

Thú tư:  Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng ngữ pháp.

1. Khái niệm câu và bản chất của câu:

Các em thường nhầm trạng ngữ là câu, nhầm ngữ danh từ là câu thường đặt câu thiếu thành phần vì vậy nên tập trung vào các dạng bài tập:

+ Các ví dụ sau ví dụ nào đã thành câu, ví dụ nào chưa thành câu? Vì sao? Hãy chữa lại cho đúng.

+ Chữa câu sai sau đây bằng 2 cách...

2. Cấu tạo ngữ pháp của câu, các thành phần câu đó là các dạng bài tập: yêu cầu học sinh chỉ ra các thành phần của câu cho sẵn.

+ Yêu cầu học sinh tìm bộ phận chính của câu.

+ Dạng yêu cầu học sinh kết hợp các thành phần câu.

+ Dạng mở rộng nòng cốt câu bằng cách thêm thành phần phụ.

3. Kiến thức về dấu câu và kỹ năng sử dụng dấu câu.

- Dạng: cho một đoạn không có dấu câu, yêu cầu học sinh tự đánh dấu câu vào chỗ thích hợp.

- Dạy chữa lại những chỗ đặt dấu câu không đúng.

4. Kiến thức về từ loại, kỹ năng xác định từ loại.

- Dạng: Yêu cầu học sinh tìm danh từ, động từ, tính từ trong câu, đoạn văn...

Thứ năm: Bồi dưỡng cảm thụ văn học:

Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học là một quá trình lâu dài và công phu trong phân môn tập đọc. Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học trước hết là bồi dưỡng vốn sống cho các em có vốn sống, các em mới có khả năng liên tưởng để tiếp cận tác phẩm. Giáo viên cần tạo điều kiện để các em tiếp xúc với nhiều tác phẩm, không nên cảm thụ hộ, biến học sinh thành người minh hoạ cho mình. Giáo viên là người gợi mở, dẫn dắt cho sự tiếp xúc của học sinh với những tác phẩm hay. Hoạt động của giáo viên chỉ có tác dụng hỗ trợ cho cảm xúc thẩm mỹ nảy nở trong hoạt động. Cần tôn trọng những suy nghĩ, cảm xúc thực thơ nâng trong trẻo của học sinh và nâng chúng lên ở cấp độ cao hơn, đồng thời giáo viên phải trang bị cho các em một số kiến thức về văn học như hình ảnh, chi tiết kết cấu tác phẩm, các đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật, những biện pháp tu từ...

Một trong những biện pháp có hiệu quả nữa là giúp học sinh đọc diễn cảm có sáng tạo, nó giúp học sinh nâng cao khả năng cảm xúc thẩm mỹ và kích thích các em khám phá ra cái hay, cái đẹp của văn chương.

Khi cho học sinh tiếp xúc tác phẩm, giáo viên cần có hệ thống câu hỏi, bài tập liên tưởng. Đó là những câu hỏi về ý nghĩa tác phẩm giúp học sinh hiểu mục đích thông báo của văn bản, đánh giá nhân vật, thái độ, tình cảm tư tưởng của tác phẩm, giá trị nghệ thuật những từ ngữ hình ảnh gây nhiều ấn tượng.

Thứ sáu: Bồi dưỡng làm văn.

Làm văn là nơi thử thách cho học sinh các kỹ năng Tiếng việt, vốn sống, vốn văn học, năng lực cảm thụ văn học. học sinh phải thể hiện cảm xúc, suy nghĩ bằng ngôn ngữ nói và viết, từ đó rèn cách nghĩ, cách cảm nhận thật sáng tạo, luyện cách diễn tả chính xác, sinh động, hồn nhiên với những nét riêng độc đáo.

Trước hết để luyện tập kỹ năng viết văn của học sinh cần có những đề bài tốt, giáo viên cần biết lựa chọn đề, biết tự ra đề bài gần gũi thân thiết với cuộc sống hàng ngày của các em nhưng cũng tránh lặp lại gò bó, nhàm chán.

Bên cạnh đó: giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kỹ năng tìm hiểu, phân tích đề, quan sát, tìm ý, kỹ năng diễn đạt, viết đoạn và hoàn thiện bài viết.

Trong khâu luyện làm văn, khâu đánh giá chữa lỗi rất quan trọng. giáo viên cần chấm, chữa bài cho từng em thật kỹ để giúp các em thấy được những thiếu sót của mình, tự rút kinh nghiệm sửa chữa nên tạo không khí thoải mái, tranh luận khi chữa bài.

Thực tế về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt tại trường tiểu học Phú Hộ - thị xã Phú Thọ

Đối với trường Tiểu học Phú Hộ, Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi luôn được nhà trường  quan tâm chỉ đạo sát sao,tạo mọi điều kiện cần thiết đảm bảo cho công tác bồi dưỡng đạt hiệu quả như: phòng học, đồ dùng dạy học... và đặc biệt là Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn thường xuyên hội ý, rút kinh nghiệm trong từng giai đoạn bồi dưỡng, hiệu trưởng trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá.

- Lựa chọn Giáo viên bồi dưỡng là những giáo viên có năng lực giảng dạy tốt, có uy tín trong học sinh, nhân dân và đồng nghiệp.

- Tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi, dự giờ trao đổi kinh nghiệm, tháo gỡ vướng mắc.

- Tổ chức cho học sinh ham gia các sân chơi trí tuệ, hưỡng dẫn, khuyến khích học sinh tham gia giao lưu: Trạng nguyên Tiếng Việt, Câu lạc bộ Tiếng Việt,....

Kết quả về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của nhà trường trong nhiều năm qua đạt nhiều thành tích tốt. Nhiều học sinh tham gia thi Trạng nguyên Tiếng Việt đạt giải cao. Năm học 2018-2019, có 10 học sinh tham gia thi Trạng nguyên Tiếng Việt cấp tỉnh đạt giải. Trong đó có 3 giải nhất, 5 giải nhì, 1 giải ba, 1 giải khuyến khích.

 

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết